Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Sao Chổi ISON xuất hiện vào ngày 11/12/2013

Sao chổi ISON (viết tắt từ International Scientific Optical Network = Hệ thống Quan sát Khoa học Quốc tế) còn có tên khoa học là C/2012 S1; được 2 nhà khoa học Vitali Nevski và Artyom Novichonok người Nga phát hiện ngày 21/9/2012 khi sử dụng kính thiên văn phản quang có đường kính 0,4km thuộc Hệ thống quan sát khoa học quốc tế đặt tại Kislovodsk, nằm ở phía bắc chân núi Caucasus, Nga.

Trong khi quỹ đạo của các hành tinh quanh mặt trời từ tròn đến bầu dục gần như trên một mặt phẳng, thì bọn sao chổi có quỹ đạo hình parabol trên một mặt phẳng khác cắt mặt phẳng hệ hành tinh khoảng 70 - 80 độ; mà mút 2 nhánh parabol ở rìa hệ mặt trời (Đám mây Oort).

Hình minh họa giả lập quỹ đạo Sao Chổi ISON vào ngày 11/12/2013:

 Trên hình, quỹ đạo Sao chổi ISON là 2 nhánh parabol màu da trời, nhánh dưới tiến dần đến mặt trời, khi cắt mặt phẳng quỹ đạo hệ hành tinh, nhánh được tô màu xanh đậm. Đỉnh quỹ đạo parabol sát mặt trời (28/11/2013) sau đó Sao chổi ISON rời xa mặt trời, lại cắt quỹ đạo hệ hành tinh, được tô màu xanh da trời. Ngày 11/12/2013, Sao chổi ISON là chấm xanh trên quỹ đạo của nó, lúc nầy cách trái đất khoảng 85 triệu km.

Ghi chú: Đơn vị độ dài sử dụng trong Hệ mặt trời: Đơn vị thiên văn = khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời, khoảng 150 triệu km. Viết tắt như ua (tiếng Pháp: unité astronomique), hay AU hoặc au (tiếng Anh: astronomical unit).

Theo số liệu thu được từ các cuộc quan sát, Sao Chổi ISON sẽ bay qua Mặt trời ngày 28/11/2013. Sao Chổi này sẽ cách Mặt trời 1,8 triệu km (0.012 AU), sượt qua bề mặt Mặt trời.

Bạn chú ý: Các phép tính thường xem vật như là 1 điểm (tâm điểm); vd khoảng cách Trái đất và mặt trời chừng 150 triệu km, nghĩa là khoảng cách tâm 2 thiên thể. Bán kinh trái đất chừng 6300 km và bán kính mặt trời chừng 700.000 km, gấp 110 lần bán kính trái đất.
Vậy Sao Chổi cách mặt trời 1,8 triệu km, nghĩa là cách bề mặt mặt trời 1,1 triệu km.

Hầu hết năm 2013, sao chổi ISON khá mờ nhạt, chỉ có thể thấy qua kính thiên văn thông dụng. Tuy nhiên từ ngày 14/11/2013 thì sao chổi ISON đã khá sáng và mọc đuôi (Đuôi sao chổi bao giờ cũng ngược hướng mặt trời, do gió mặt trời thổi tạo ra). Lúc nầy có thể quan sát sao chổi ISON bằng mắt thường vào lúc hoàng hôn, vị trí gần mặt trời lặn. Cứ mỗi ngày thì sao chổi ISON càng rõ dần và đuôi dài thêm ra do càng gần mặt trời.

Khoảng ngày 28/11/2013 có lẽ tạm hết thấy sao chổi ISON vì lúc nầy sao chổi ISON ở gần nhất và phía sau mặt trời.

Qua 29/11/2013, sao chổi ISON vẫn gần mặt trời, do vị trí trái đất đối với mặt trời, từ ngày nầy ta có thể quan sát sao chổi ISON vào lúc bình minh bằng mắt thường. Độ sáng dự kiến tương đương trăng rằm!

Hình quỹ đạo sao chổi ISON và thời điểm mọc đuôi

Ba tuần sau đó (từ 29/11/2013), do sao chổi ISON có độ sáng sáng nhất từ trước đến nay, tương đương trăng rằm, dự kiến mỗi buổi sáng ta vẫn quan sát sao chổi với đuôi dài (do đến gần trái đất), cho đến khi ánh mặt trời mọc chói chan làm nó lu mờ đi.



Hình trên, đường màu trắng mờ bên dưới là đường chân trời trên trái đất. Mặt trời nằm dưới đường chân trời: buổi bình minh. Các điểm nối màu lục non là vị trí dự kiến lúc 8 giờ sáng của Sao chổi ISON vào các ngày 29/11, 30/11, 1/12, 2/12... 13/12/2013. Điều nầy có nghĩa là quan sát Sao chổi ISON vào ban ngày là vô tư!

Tất nhiên các điều trên chỉ là dự kiến dựa theo tính toán, thực tế còn phải chờ đến cuối năm (Lúc nầy 11/2/2013 là còn 9 tháng rưỡi!). Tuy vậy do khả năng Sao chổi ISON cực sáng trong mọi thời, kết quả là đáng chờ mong.

8 nhà khoa học Việt ở NASA

image

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh

Khi có dịp đến thăm phòng trưng bày thành tựu chinh phục không gian của NASA ở Houston, bang Texas, những người Việt Nam sẽ không khỏi cảm thấy tự hào khi thấy tên của một người Việt được trang trọng tôn vinh, đó là giáo sư - tiến sĩ toán học Nguyễn Xuân Vinh, người đã vạch quỹ đạo cho những phi thuyền Apollo của Mỹ lên được mặt trăng.

image

Vạch quỹ đạo lên mặt trăng

Nhà khoa học Nguyễn Xuân Vinh đã nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về tính toán quỹ đạo tối ưu cho những chuyến bay lên mặt trăng dưới sự bảo trợ của Cơ quan Hàng không và không gian Mỹ NASA. Ông là người Việt Nam đầu tiên và cũng là người đầu tiên ở Đại học Colorado được cấp bằng tiến sĩ khoa học không gian vào năm 1962 với công trình này.

image

Thăm viếng Bộ Tư Lệnh Không Quân Hoa Kỳ Thái Bình Dương ở Honolulu (1962)

Những lý thuyết của Nguyễn Xuân Vinh đã góp phần quan trọng đưa các phi thuyền Apollo lên được mặt trăng thành công và sau này được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền con thoi trở về trái đất.

image

Quỹ đạo vệ tinh co lại do sự cọ xát với bầu khí quyển



Ngoài tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, suốt 40 năm qua hàng trăm chuyên gia người Việt các thế hệ đã nối tiếp nhau để lại nhiều dấu ấn trong những thành tựu của NASA. Chỉ tính riêng cơ quan Ames Research Center của NASA ở Moffett Field, bang California đã có hơn 100 chuyên gia là người Việt.

Bay vào vũ trụ dài ngày

image

Tiến sĩ vật lý thiên văn Trịnh Hữu Châu (Eugene H. Trinh)


Một trong những chuyên gia người Việt như vậy là Tiến sĩ vật lý thiên văn Trịnh Hữu Châu (Eugene H. Trinh), làm việc trong Phòng thí nghiệm phản lực (Jet Propulsion Laboratory - JPL) của NASA. Tiến sĩ Trịnh Hữu Châu sinh năm 1950 tại Sài Gòn, đỗ Tiến sĩ vật lý ứng dụng Đại học Yale năm 1977, ông đã trở thành nhà du hành vũ trụ trên chuyến tàu con thoi Columbia 12 số hiệu STS-50 năm 1992, bay lên trạm không gian Skylab trong chuyến bay dài 13 ngày - dài nhất trong toàn bộ chương trình tàu con thoi.

Cùng làm việc ở Phòng thí nghiệm phản lực còn có tiến sĩ Nguyễn Thành Tiến, người đã được NASA trao Huy chương ngoại hạng vì những đóng góp quan trọng trong chương trình Galileo đưa phi thuyền thám hiểm sao Mộc.

Thế hệ khoa học 6X

image

Nhà khoa học Bùi Trí Trọng, người Mỹ gốc Việt, chuyên gia về động cơ hỏa tiễn của NASA.


Hiện nay, những gương mặt thuộc thế hệ 6X trở về sau chiếm đa số trong cộng đồng các nhà khoa học người Việt ở NASA. Trong đó, có thể kể tới Tiến sĩ hàng không và không gian Bùi Trí Trọng, hiện đang làm việc ở trung tâm nghiên cứu Dryden Flight Research Center ở Edwards, bang California.

image

Bùi Trí Trọng, sinh 1965 tại Sài Gòn, đỗ Tiến sĩ tại Đại học Stanford, sau đó anh làm việc cho Glenn Research Center của NASA từ 1997 với công việc khởi đầu là kỹ sư hàng không, hiện anh đang làm việc với tư cách chuyên gia nghiên cứu và thử nghiệm các loại tên lửa. Tiến sĩ Bùi Trọng Trí là một trong những tên tuổi của ngành hàng không thế giới.

Nhà khoa học 25 tuổi

Một trong những gương mặt trẻ tuổi nhất là nhà khoa học Đinh Bá Tiến. Năm 2004, khi mới chỉ 25 tuổi và đang theo chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ về tin học tại Đại học Huddersfield ở Anh. Đinh Bá Tiến đã vượt qua hàng trăm ứng viên khác trên khắp thế giới và được tuyển chọn vào chương trình nghiên cứu trí thông minh nhân tạo của NASA để chế tạo các phần mềm điều khiển robot, phi thuyền tự hành.

Tham gia chế tạo kính thiên văn

image

GS Nguyễn Xuân Vinh & Tiến sỹ Nguyễn Trọng Hiền 

Từ khi còn là học sinh cấp 2 ở Đà Nẵng, Nguyễn Trọng Hiền đã say mê Vật lý và Thiên văn học. Năm 1981, khi sắp tốt nghiệp cấp 3, anh đi sang Mỹ định cư theo sự bảo lãnh của người anh. Vừa đặt chân đến thành phố Los Angeles , với vốn tiếng Anh khá thành thạo đã được chuẩn bị từ khi còn ở Việt Nam , Nguyễn Trọng Hiền đã theo học khoa Vật lý của trường Đại học Berkeley ( University of California at Berkeley ). Tốt nghiệp, anh tiếp tục theo học bậc Tiến sỹ tại Đại học Princeton với chuyên ngành nghiên cứu bức xạ nền vũ trụ. Anh là người Việt Nam đầu tiên nhận bằng Tiến sỹ tại đại học này.

Công việc Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hiền là phụ trách mảng nghiên cứu chế tạo thiết bị quan sát thiên văn vũ trụ. Dự án mới nhất anh đang thực hiện là nghiên cứu chế tạo kính thiên văn cho đài thiên văn vũ trụ hợp tác giữa NASA và Cơ quan không gian châu Âu (ESA), dự kiến sẽ hoàn tất vào năm 2007.

image

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hiền trước Đài thiên văn Keck.

Ngoài những công việc nghiên cứu tại NASA, Tiến sĩ Hiền còn cộng tác rất tích cực với Hội Thiên văn Vũ trụ Việt Nam . Được biết, anh cũng đang xúc tiến cùng các nhà khoa học trong nước thành lập một cơ sở đào tạo khoa học cho các em học sinh ở Việt Nam .

image

Đó mới chỉ là một số gương mặt tiêu biểu trong số hằng trăm nhà khoa học gốc Việt đã và đang làm việc, góp phần xây dựng và phát triển nên ngành khoa học không gian hùng hậu và nổi tiếng của nước Mỹ ngày nay.

Vụ nổ supernova lớn nhất trong lịch sử

Vụ nổ supernova lớn nhất trong lịch sử

Vu no supernova lon nhat trong lich su
Ảnh: Reuters
Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) hôm 7/5 công bố phát hiện về một vụ nổ supernova lớn nhất từ trước đến nay, phát ra luồng ánh sáng gấp 5 lần các vụ nổ khác mà con người quan sát được.
Supernova xảy ra khi một ngôi sao có kích thước cực lớn vào cuối kỳ tồn tại đã bị sụp đổ bởi chính sức hút của nó và phát nổ dữ dội. Vụ nổ ngôi sao trên, có tên là SN 2006gy, cách Trái đất 240 triệu năm ánh sáng, đã kéo dài khoảng 70 ngày so với khoảng thời gian vài tuần trong các vụ nổ tương tự. Từ quy mô của vụ nổ, các nhà khoa học ước tính sao SN 2006gy phải lớn gấp 150 lần so với Mặt trời.
Theo Hãng tin AP, các hình ảnh thu được từ kính thiên văn tia X Chandra cho thấy ngôi sao trên đã không biến thành lỗ đen như các vụ nổ siêu tân tinh khác và bỏ qua giai đoạn một ngôi sao chết. Supernova là hiện tượng cực hiếm. Theo giáo sư Dave Pooley thuộc Đại học California (Mỹ), chưa xảy ra vụ nổ supernova nào tại Dải Ngân hà trong hơn 400 năm qua. Giới khoa học đang theo sát diễn tiến của ngôi sao Eta Carinae, thuộc Dải Ngân hà và cách Trái đất 7.500 năm ánh sáng. Giới chuyên môn cho rằng Eta Carinae có thể phát nổ bất kỳ lúc nào và sẽ có thể kết thúc rực rỡ giống như SN 2006gy.

Các kiểu nổ sao trên vũ trụ

Các kiểu nổ sao trên vũ trụ được chia làm 3 loại lớn:
- Vụ nổ tân tinh: là vụ nổ nhỏ nhất của vì sao khi nổ phát ra nguồn năng lượng khổng lồ. Các hành tinh gần đó có thể bị nổ tung cùng vì sao này. Sau khi nổ vì sao trở thành sao "lùn" trắng nó một quả cầu nhỏ và rất đặc.
- Vụ nổ siêu tân tinh: super nova Vụ nổ này rất mạnh năng lượng của nó được giả phóng hết.
- Vụ nổ mạnh nhất: hyper nova Vụ nổ này mạnh nhất sau khi nổ để lại sao lùn trắng và sao lùn trắng bắt đầu quay vòng khi đang quay phát ra tia X.

Các nhà khoa học phát hiện một dạng nổ sao mới

Một vụ nổ sao theo dạng mới đã được phát hiện - vụ nổ được gọị là nova tia gamma đã phát ra những tia bức xạ với năng luợng cao nhất trong vũ trụ - tia gamma. Nổ sao nova là vụ nổ nhiệt hạt nhân mạnh do một sao lùn trắng gây ra khi nó được ‘tiếp liệu’ từ một ngôi sao đồng hành vói nó. Không giống nổ sao supernova, các vụ nổ nova không phá hủy chính các ngôi sao. Các nhà nghiên cứu mong đợi và đã nhìn thấy thấy tia X do các sóng tạo ra bởi các đám khí giãn nở trên các ngôi sao gây ra nổ nova. Nhưng không giống các vụ supernova, họ không hề phát hiện ra các tia gamma từ các vụ nổ nova. Giờ đây, các nhà nghiên cứu bằng cách sử dụng kính thiên văn vũ trụ Fermi Large Area đang bay trên quỹ đạo Trái đất, đã phát hiện ra một vụ nổ sao nova phát ra các tia gamma, thậm chí còn mạnh hơn các chùm tia X. Kính Fermi Large Area là thiết bị phát hiện tia gamma nhậy nhất từng được phóng lên vũ trụ. “Đây là vụ nổ sao nova tia gamma đầu tiên được phát hiện” Teddy Cheung, một nhà thiên văn vật lý tại Phòng thí nghiệm nghiên cứu Hải quân ở Washington nói. Nổ sao tia gamma Các tia gamma bí ẩn trên đã phát đi từ một cụm sao đôi với tên gọi V407 Cygni cách chúng ta khoảng 8800 năm ánh sáng, bao gồm một sao lùn trắng và một ngôi sao khổng lồ đỏ đang hấp hối. Các tia gamma phát ra sau khi vụ nổ nova được một nhà thiên văn nghiệp dư người Nhật phát hiện ra hồi tháng 3. Cụm sao này bùng phát mạnh và có độ sáng đạt cực đại và chỉ dưới ngưỡng nhìn thấy bằng mắt thường một chút, và sáng hơn bất cứ thời điểm nào trong suốt 75 năm, thời gian các nhà thiên văn theo dõi cặp sao này. Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng các chùm tia gamma được tạo thành khi các sóng xung kích của vụ nổ nova va chạm với những đám khí đậm đặc phát ra từ ngôi sao khổng lồ đỏ. Các proton và electron được gia tốc mạnh lên mức năng lượng rất cao khi có va chạm, và tiếp đó chúng phát ra các tia gamma. “Khi những đợt sóng lan truyền ra phía ngoài, chúng đóng vai trò như những xe ủi tuyết, quét đi những khối vật chất do gió sao tạo ra và tạo những sóng xung kích ở mặt ngoài của sóng” Adam Hill, một nhà vật lý thiên văn tại trường ĐHTH Joseph Fourier – Grenoble, Pháp giải thích. Một phát hiện đã đuợc dự báo Trong nhiều vụ nổ nova, ngôi sao đồng hành với ngôi sao lùn trắng trong hệ thường là các sao thuộc dạng trung bình trong chu trình sao, và vì vậy chúng không có “gió sao” đậm đặc như trong trường hợp ngôi sao khổng lồ đỏ trong hệ V407 Cygni và do vậy chúng không có đủ vật chất để tạo thành các tia gamma. Có rất ít các hệ sao đôi được cho là có thể kết hợp giữa một ngôi sao lùn trắng đang bùng phát các đợt nổ nova với một sao khổng lồ đỏ, và do vậy các nhà nghiên cứu cho rằng các vụ nổ nova đi kèm với tia gamma là tương đối hiếm. “Khám phá ra một cái gì đó mới và không dự đoán trước được luôn luôn phấn khích. Những vụ khám phá kiểu như thế này chính là lý do tôi lại muốn làm một nhà khoa học” Adam Hill kết luận. Các nhà khoa học tại chương trình phối hợp Fermi-LAT đã công bố chi tiết về phát hiện của mình trên số 13/8/2010 của tạp chí Khoa học.

Khám phá mới về quá trình hình thành các ngôi sao và hành tinh

Khám phá mới về quá trình hình thành các ngôi sao và hành tinh

Theo một tài liệu nghiên cứu mới đây, ánh sáng từ các đám mây vũ trụ, nơi mà các ngôi sao và hành tinh được sinh ra có thể sớm bộc lộ nhiều bí ẩn về các vùng sinh sao đó.

Những đám mây phân tử lạnh chính là những cái nôi sinh ra những ngôi sao và hành tinh. Ở đó, những cụm khí đậm đặc bị đổ sụp vào và hình thành lên các tiền sao và những vùng khí bụi khổng lồ xung quanh có thể tạo ra những hành tinh giống như Trái đất. Nhưng thực sự quá trình này diễn ra như thế nào thì phần lớn vẫn nằm trong bức màn bí ẩn bởi vì chính các đám mây vũ trụ đó lại che phủ những gì diễn ra bên trong nên các nhà thiên văn học không thể nhìn rõ với ánh sáng khả kiến.

Trong nghiên cứu mới này, nguồn ánh sáng với cái tên “xuyên tâm” (coreshine) được chiếu sáng từ trong lõi của các đám mây có thể bộc lộ những bằng chứng về sự hình thành của những ngôi sao và hành tinh theo thời gian.

Ánh sáng xuyên tâm từ đám mây Lynds Dark Nebula 183 (L183 hay LDN183). Lõi của đám mây này được bộc lộ dưới sự nhiễu xạ mạnh của chùm sáng hồng ngoại bởi các hạt bụi có kích thước cỡ micromet. Hiện tượng này được phát hiện ra trong phân nửa số đối tượng nghiên cứu. Credit Image: Laurent Pagani/Data. NASA.
Vào năm 2005, ống kính vũ trụ hồng ngoại Spitzer của NASA đã phát hiện ra những tia hồng ngoại phát ra từ nhân của một đám mây phân tử lạnh, không có sao cách chúng ta khoảng 400 năm ánh sáng. Đám mây này có biệt danh L183 và nặng xấp xỉ khoảng 80 lần Mặt trời.

Luồng ánh sáng hồng ngoại từ L183 phát ra có vẻ như là kết quả của ánh sáng sao đi xuyên qua đám mây và bị tán xạ bởi những đám bụi trong lõi của đám mây đó. Bước sóng của những tia hồng ngoại đó cho thấy kích thước các hạt bụi ít ra là bằng 1 micron (khoảng 1/100 đường kính sợi tóc người).

“Bạn có thể cho rằng những hạt bụi đó là các tấm gương nhỏ” Laurent Pagani, một nhà vật lý thiên văn tại Đài quan sát Paris nói “ Nếu tấm gương nhỏ hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng thì ánh sáng sẽ không quan tâm tới tấm gương đó nữa” (ý nói guơng nhỏ hơn bước sóng sẽ không có tác dung phản xạ).

Kích thước của những hạt bụi đó lớn hơn khoảng 10 lần so với kích thước bụi trung bình được cho là đã tạo ra các đám mây phân tử. Do đó, bức xạ hồng ngoại trên có thể làm sáng tỏ về sự hình thành của những khối tạo sao và sự phát triển của các hành tinh.

Giờ đây, các nhà khoa học còn cho biết, hiệu ứng ánh sáng xuyên tâm (coreshine) không chỉ là của riêng của đám mây L183 mà thực sự khá phổ biến trong nhiều đám mây phân tử ở khắp trong dải Ngân hà. Pagani và các cộng sự đã sử dụng kính Spitzer để khảo sát lõi của 110 các đám mây phân tử khác nhau và khoảng một nửa trong số này có hiệu ứng ánh sáng xuyên tâm rõ ràng.

Những nghiên cứu tiếp theo của ánh sáng xuyên tâm làm hé lộ nhiều chi tiết về tính chất của các hạt bụi là nguyên nhân tạo ra hiệu ứng này. Theo Pagani do kích thước của những hạt bụi đó phải lớn dần theo thời gian, ánh sáng xuyên tâm có thể cho biết tuổi của những đám mây đó. Ngoài ra vị trí của các chùm bức xạ hồng ngoại còn có thể liên quan tới cấu trúc bên trong của các đám mây phân tử này.
Toàn bộ những thông tin quý giá trên cuối cùng có thể giúp các nhà khoa học tìm hiểu sự hình thành của các ngôi sao và hành tinh.

“Từ lâu rồi, các mô hình về sự phát triển của những hạt bụi vũ trụ là quá chậm - thường kéo dài tới hàng trăm triệu năm- và thường không đáng tin cậy” Pagani nói. Theo ông, mô hình mới được đồng nghiệp Chris Ormel thuộc Viện Max Plank - Đức, viết có thể cho độ chính xác cao hơn và phù hợp với những quan sát mới đây.

xem thêm : http://vgl.com.vn/kinh-thien-van/